Thứ Tư, 11 tháng 7, 2018

Thơ Ivan Bunin - Phần 3


20. RỪNG THÔNG PSKOV

Những khoảng xa tối, nghiêm khắc những cánh rừng
Dưới chiếc cột màu đ và dưới một cây thông
Tôi đứng đó, phân vân trên ngưỡng cửa
Vào nơi từng lãng quên, nhưng biết mấy thân thương.

Liệu ta có xứng đáng với di sản của mình?
đấy tôi sẽ cảm thấy nặng nề vô cùng
Nơi những con đường của mèo hoang và gấu
Sẽ dẫn tôi đi vào cổ tích những đường con.

Nơi những hạt ửng đ trên cây kim ngân
Nơi trên gỗ mục màn rêu xám bao trùm
Và màn sương xanh vây xung quanh từng quả
Treo lơ lửng trên những cây bách tròn.
1912
______________
*Pskovlà một thành phố cổ nằm phía tây bắc của Nga.

Псковский бор

Вдали темно и чащи строги.
Под красной мачтой, под сосной
Стою и медлю - на пороге
В мир позабытый, но родной.

Достойны ль мы своих наследий?
Мне будет слишком жутко там,
Где тропы рысей и медведей
Уводят к сказочным тропам,

Где зернь краснеет на калине,
Где гниль покрыта ржавым мхом
И ягоды туманно-сини
На можжевельнике сухом.


21. GIỮA ĐÊM KHUYA TÔI THỨC DẬY VÀ NHÌN

Giữa đêm khuya tôi thức dậy và nhìn
Vào mặt trăng giữa trời cao tê tái
Vào vịnh biển dưới trăng và trên núi
Có tuyết đang lấp lánh từ xa xăm
Còn phía dưới, nước trên cát ánh lên
Và xa hơn, khoảng bao la xám xịt
Trên biển màn sương và biển lạnh lùng

Tôi hiểu rằng chẳng có gì mới hết
Lời của con người trống rỗng mà thôi
Hiểu gian dối của hy vọng, niềm vui
Vô thường của tình và đắng cay ly biệt
Với những người cuối cùng, gần gũi nhất
Người bằng sự gần gũi làm nhẹ hơn
Những đau đớn, khổ đau không cần thiết
Và trong những giờ phút này cô đơn
Của sự thức giấc lặng lẽ lúc nửa đêm
Của sự miệt thị với trần gian và xa cách
Với tất cả vẻ đẹp vô nghĩa trên trần.
1922

В полночный час я встану и взгляну

В полночный час я встану и взгляну
На бледную высокую луну,
И на залив под нею, и на горы,
Мерцающие снегом вдалеке...
Внизу вода чуть блещет на песке,
А дальше муть, свинцовые просторы.
Холодный и туманный океан...

Познал я, как ничтожно и не ново
Пустое человеческое слово,
Познал надежд и радостей обман,
Тщету любви и терпкую разлуку
С последними немногими, кто мил,
Кто близостью своею облегчил
Ненужную для мира боль и муку,
И эти одинокие часы
Безмолвного полуночного бденья,
Презрения к земле и отчужденья
От всей земной бессмысленной красы.


22. THƠ MỘ CHÍ I

Em là cô dâu từ giã cõi đời.
Chàng nói rằng em đã từng trẻ đẹp
Nhưng tình em chỉ ước mơ mãnh liệt
Chỉ sống bằng hy vọng ngắn mà thôi.

Ngày tháng tư em từ giã cõi đời
Ra đi mãi, lặng im và ngoan ngoãn
Nhưng em đã sống không hề phí uổng:
Vẫn còn tình yêu cùng với người đây.

Trên con đường yên lặng chốn nghĩa trang
Chỉ cơn gió trong mơ màng thổi nhẹ
Tất cả nói về hạnh phúc, mùa xuân.
Bài thơ tình yêu trên lăng mộ cũ
Vang lên nỗi buồn bất tử về em
Và bầu trời xanh thắm bên con đường.
1902

Эпитафия

Я девушкой, невестой умерла.
Он говорил, что я была прекрасна,
Но о любви я лишь мечтала страстно, -
Я краткими надеждами жила.

В апрельский день я от людей ушла,
Ушла навек покорно и безгласно –
И все ж была я в жизни не напрасно:
Я для его любви не умерла.

Здесь, в тишине кладбищенской аллеи,
Где только ветер веет в полусне,
Все говорит о счастье и весне.
Сонет любви на старом мавзолее
Звучит бессмертной грустью обо мне,
И небеса синеют вдоль аллеи.




23. THƠ MỘ CHÍ II

Trên mặt đất em từng là con chim thiên đường quí hiếm
Trên những cành tùng, giữa những ngôi mộ mạ vàng
Giọng nói trẻ vang lên, như tiếng sáo trong rừng
Và những ánh mặt trời từ những bờ mi đen tỏa sáng.
Số phận đ ý em. Trên mặt đất em không phải người trần
Chỉ thiên đường sắc đẹp không biết đến ranh giới cấm.
1917

Эпитафия

На земле ты была точно дивная райская птица
На ветвях кипариса, среди золоченых гробниц.
Юный голос звучал, как в полуденной роще цевница,
И лучистые солнца сияли из черных ресниц.
Рок отметил тебя. На земле ты была не жилица.
Красота лишь в Эдеме не знает запретных границ.



24. CON XIN ĐA TẠ NGƯỜI VÌ TẤT CẢ

Con xin đa tạ Người, vì tất cả
Sau những âu lo và những buồn đau
Người đã ban con ánh nắng ban chiều
Cánh đồng rộng và màu xanh hiền dịu.

Con giờ vẫn cô đơn – như muôn thuở
Nhưng hoàng hôn đổ ánh lửa tuyệt vời
Và tan trong đó Ngôi sao Ban chiều
Run rẩy qua, như một hòn đá quí.

Con hạnh phúc với nỗi buồn phận số
Trong nhận thức vẫn vui vẻ ngọt ngào
Vẫn một mình trong thầm lặng suy tư
Nói với Người – và tránh xa tất cả.
1901

За все Тебя, Господь, благодарю

За все Тебя, Господь, благодарю!
Ты, после дня тревоги и печали,
Даруешь мне вечернюю зарю,
Простор полей и кротость синей дали.

Я одинок и ныне - как всегда.
Но вот закат разлил свой пышный пламень,
И тает в нем Вечерняя Звезда,
Дрожа насквозь, как самоцветный камень.

И счастлив я печальною судьбой
И есть отрада сладкая в сознанье,
Что я один в безмолвном созерцанье,
Что всем я чужд и говорю - с Тобой.




25. CHÚA GIÊ-SU SỐNG LẠI

Chúa Giê-su sống lại. Với bình minh
Bóng đêm dài đang dần dà đi khỏi
Một lần nữa thắp sáng giữa trần gian
Một ngày mới chỉ dành cho đời mới.

Và rừng thông vẫn hãy còn tối đen
Vẫn còn trong bóng ẩm ướt của mình
Như một tấm gương, mặt hồ đấy
Đang thở bằng vẻ tươi mát của đêm.

Vẫn còn trong những thung lũng màu xanh
Những màn sương bay lượn… Nhưng hãy nhìn:
Đã cháy lên trên giá băng miền núi
Tia mặt trời như lửa của bình minh!

Những tia nắng trên cao còn tỏa sáng
Không thể nào đạt đến, như giấc mơ
Nơi giọng nói mặt đất còn im lặng
Thì vẻ đẹp kia tinh khiết vô bờ.

Nhưng với mỗi giờ qua càng tiếp cận
Bởi vì trên đỉnh núi đã ửng hồng
Chúng đang lấp lánh và đang cháy lên
Trong bóng tối của rừng, trong thung lũng.

Chúng cháy trong vẻ đẹp đầy mong muốn
Và báo tin từ đỉnh của trời xanh
Rằng đã đến cái ngày từng hứa hẹn
Rằng Giê-su quả thực đã hồi sinh!
1896

Христос воскрес! Опять с зарею

Христос воскрес! Опять с зарею
Редеет долгой ночи тень,
Опять зажегся над землею
Для новой жизни новый день.

Еще чернеют чащи бора;
Еще в тени его сырой,
Как зеркала, стоят озера
И дышат свежестью ночной;

Еще в синеющих долинах
Плывут туманы... Но смотри:
Уже горят на горных льдинах
Лучи, огнистые зари!

Они в выси пока сияют,
Недостижимой, как мечта,
Где голоса земли смолкают
И непорочна красота.

Но, с каждым часом приближаясь
Из-за алеющих вершин,
Они заблещут, разгораясь,
И в тьму лесов и в глубь долин;

Они взойдут в красе желанной
И возвестят с высот небес,
Что день настал обетованный,
Что бог воистину воскрес!



26. LĂNG MỘ RA-CHÊN*

Nàng đã chết, và Gia-cốp đã chôn
Nàng bên đường…” Trên lăng mộ chẳng có
Đ tên tuổi, dấu hiệu hay dòng chữ.
Có ánh sáng yếu ớt vào ban đêm
Và phấn trắng được quét lên mái vòm
Một vẻ tái nhợt vô cùng huyền bí.

Tôi rụt rè đi đến giữa hoàng hôn
Và xúc động hôn lên hòn đá phấn
Trên hòn đá trồi ra có màu trắng
Một lời ngọt ngào nhất! Ra-chên!
1907
_______________
*Ra-chên (Rachel) là vợ của Gia-cốp (Jacob). Đây là một câu chuyện nổi tiếng trong Kinh Thánh Cựu Ước (Ra-chên qua đời, được chôn bên con đường đi về Ê-phơ-rát, tức là Bết-lê-hem. Gia-cốp dựng một mộ bia; ấy là mộ bia của Ra-chên đến ngày nay hãy còn di tích – Sáng Thế ký 35, 19-20).

Гробница Рахили

«И умерла, и схоронил Иаков
Ее в пути...» И на гробнице нет
Ни имени, ни надписей, ни знаков.
Ночной порой в ней светит слабый свет,
И купол гроба, выбеленный мелом,
Таинственною бледностью одет.

Я приближаюсь в сумраке несмело
И с трепетом целую мел и пыль
На этом камне, выпуклом и белом...
Сладчайшее из слов земных! Рахиль!


27. TUỔI TRẺ

Trong rừng khô bắn một chiếc roi dài
Những con bò trong bụi cây sột soạt
Xanh một màu xanh những bông hoa tuyết
Và dưới chân xào xạc chiếc lá sồi.

Những đám mây đầy nước lượn trên trời
Cơn gió mát thổi trên đồng màu xám
Và trong tim một niềm vui thầm lặng
Đời như thảo nguyên, hoang vắng, tuyệt vời.
1916

Молодость

В сухом лесу стреляет длинный кнут,
В кустарнике трещат коровы,
И синие подснежники цветут,
И под ногами лист шуршит дубовый.

И ходят дождевые облака,
И свежим ветром в сером поле дует,
И сердце в тайной радости тоскует,
Что жизнь, как степь, пуста и велика.



28. ALONUSKA

Alonuska sống trong rừng
Alonuska da ngăm
Đôi mắt nàng nóng bỏng
Tỏa sáng và ánh lên
Alonuska bé bỏng
Uống cùng bố suốt đêm.
Rồi nàng đi vào rừng
Đi dạo, đi tìm bạn
Nhưng gặp ai trong rừng?
Nàng lúc lắc cây thông
Và thấy vô cùng chán
Không có việc gì làm
Bèn nhóm đống lửa lớn
Và ngọn lửa bùng lên
Thiêu cháy cả cánh rừng
Rộng đến hàng nghìn dặm
Giờ tin tức về nàng
Không một ai biết đến!
1915

Аленушка

Аленушка в лесу жила,
Аленушка смугла была,
Глаза у ней горячие,
Блескучие, стоячие,
Мала, мала Аленушка,
А пьет с отцом - до донушка.
Пошла она в леса гулять,
Дружка искать, в кустах вилять,
Да кто ж в лесу встречается?
Одна сосна качается!
Аленушка соскучилась,
Безделием измучилась,
Зажгла она большой костер,
А в сушь огонь куда востер!
Сожгла леса Аленушка
На тыщу верст, до пенушка,
И где сама девалася -
Доныне не узналося!



29. KHÔNG BAO GIỜ

Không bao giờ các người còn được hồi sinh lại nữa
Không đứng lên từ những nấm mồ mục nát của mình!
Không bao giờ vẻ mặt của Chúa các người còn được nhìn
Bời vì rằng không hề có sự nổi loạn dành cho nô lệ -
Những đầy tớ của sự tham lam, hung ác và phẫn nộ
Của sự trả thù, của sợ hãi, của sắc dục, của dối gian
Của những thân xác béo phì, của tuổi già bẩn thỉu
Tất cả đã bị chôn vùivà xin hãy nằm yên!
1916

Никогда вы не воскреснете, не встанете

Никогда вы не воскреснете, не встанете
Из гнилых своих гробов!
Никогда на божий лик не глянете,
Ибо нет восстанья для рабов -
Темных слуг корысти, злобы, ярости,
Мести, страха, похоти и лжи,
Тучных тел и скучной, грязной старости:
Закопали - и лежи!


30. NGÔI SAO TỪNG LUNG LINH TRONG NƯỚC ĐÊM

Ngôi sao từng lung linh trong nước đêm
Dưới rặng liễu trong khu vườn còi cọc –
Ngọn lửa trước bình minh trong đầm nước
Tôi không còn tìm thấy giữa trời xanh.

Về ngôi làng sống những năm tuổi trẻ
Về ngôi nhà viết bài hát đầu tiên
Nơi niềm vui, hạnh phúc từng chờ mong
Không bao giờ tôi còn quay về nữa.
1891

Ту звезду, что качалася в темной воде

Ту звезду, что качалася в темной воде
Под кривою ракитой в заглохшем саду, -
Огонек, до рассвета мерцавший в пруде,
Я теперь в небесах никогда не найду.

В то селенье, где шли молодые года,
В старый дом, где я первые песни слагал,
Где я счастья и радости в юности ждал,
Я теперь не вернусь никогда, никогда.


31. QUÊ HƯƠNG

Dưới bầu trời xám xịt như chết lặng
Ngày mùa đông cau có đang tối dần
Rừng thông như không có điểm cuối cùng
Đến làng mạc xem hãy còn xa lắm.

Một màn sương có màu sữa và xanh
Như nỗi buồn ai đó rất dịu dàng
Và trên sa mạc này tuyết trắng
Khoảng nhá nhem tối sáng đang mờ dần.
1896

Родина

Под небом мертвенно-свинцовым
Угрюмо меркнет зимний день,
И нет конца лесам сосновым,
И далеко до деревень.

Один туман молочно-синий,
Как чья-то кроткая печаль,
Над этой снежною пустыней
Смягчает сумрачную даль.




32. BẦU TRỜI XANH THẮM ĐÃ MỞ RA

Bầu trời xanh thắm đã mở ra
Giữa những đám mây ngày tháng tư.
Trong rừng tất cả khô và xám
Và như mạng nhện bóng rơi ra.

Con rắn sột soạt giữa lá sồi
Rồi rắn chui vào trong bộng cây
Rắn bò vào rừng theo cây đoạn
In vết bộ da trên đất này.

Những chiếc lá khô và mùi thơm
Ánh sáng nhẵn mịn của bạch dương
Phút giây hạnh phúc và gian dối
Một nỗi buồn nhớ gấp trăm lần
1901

Раскрылось небо голубое

Раскрылось небо голубое
Меж облаков в апрельский день.
В лесу всё серое, сухое,
И паутиной пала тень.

Змея, шурша листвой дубовой,
Зашевелилася в дупле
И в лес пошла, блестя лиловой,
Пятнистой кожей на земле.

Сухие листья, запах пряный,
Атласный блеск березняка...
О миг счастливый, миг обманный.
Стократ баженная тоска!
  

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét